Việt Nam có nhiều khát vọng lớn. Muốn có những người như Steve Jobs, Elon Musk. Muốn làm AI, bán dẫn, công nghệ cao. Muốn có nền y tế ngang hàng với các nước tiên tiến. Muốn có đại học đẳng cấp quốc tế.
Tôi nghĩ khát vọng đó là tốt quá. Một quốc gia cần có ước mơ lớn. Một xã hội thiếu khát vọng thì khó đi xa.
Nhưng khát vọng chỉ có giá trị khi nó đi kèm với một cái nhìn thực tế về năng lực của mình. Khi khoảng cách giữa điều muốn đạt và điều đang có quá xa, khát vọng rất dễ biến thành ảo vọng.
Theo tôi, Việt Nam hiện nay có ít nhứt 3 khoảng cách cần nhìn thẳng:
* Hình ảnh và năng lực
* Phong trào và thể chế
* Danh và thật
● Khoảng cách thứ nhứt: hình ảnh và năng lực.
Chúng ta thích nói về những chữ rất đẹp: đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, thông minh nhân tạo, bán dẫn, thành phố thông minh, bệnh viện thông minh, đại học đẳng cấp quốc tế.
Những từ đó nghe rất hay. Nhưng năng lực thật nằm ở những câu hỏi cụ thể hơn nhiều.
Có bao nhiêu đại học Việt Nam là đại học nghiên cứu đúng nghĩa? Có bao nhiêu nhóm nghiên cứu có thể cạnh tranh quốc tế? Có bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam đầu tư nghiêm túc cho R&D? Có bao nhiêu sản phẩm công nghệ cao do người Việt thiết kế, làm chủ, đăng kí bằng sáng chế, xây dựng thương hiệu và bán ra thị trường toàn cầu?
Không nhiều.
Việt Nam xuất cảng rất nhiều hàng công nghệ cao. Nhưng phần lớn hàng công nghệ cao đó là do các công ty nước ngoài sản xuất tại Việt Nam. Samsung, Intel, Foxconn, LG, Canon, Pegatron, Quanta và nhiều tập đoàn khác đã giúp Việt Nam trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Đó là một thành tựu đáng ghi nhận.
Nhưng xuất cảng công nghệ cao từ lãnh thổ Việt Nam không đồng nghĩa với làm chủ công nghệ cao của Việt Nam.
Một cái điện thoại được lắp ráp ở Việt Nam có thể tạo việc làm, ngoại tệ, và kinh nghiệm công nghệ. Nhưng thiết kế sản phẩm, chip, hệ điều hành, bằng sáng chế, thương hiệu, chiến lược thị trường, và phần lợi nhuận cao nhứt thường vẫn thuộc về công ti mẹ ở Nam Hàn, Đài Loan, Nhật, Mĩ hay Singapore.
Điều này cũng giống như một người làm bếp rất giỏi trong nhà hàng của người khác. Anh ta có tay nghề, có kinh nghiệm vận hành. Nhưng công thức, thương hiệu, vốn, chuỗi cung ứng, và quyền quyết định thực đơn vẫn thuộc về chủ nhà hàng. Muốn trở thành người chủ thực sự, anh ta cần nhiều hơn kĩ năng nấu ăn. Anh ta cần tri thức, vốn, quản trị, sáng tạo, và quyền sở hữu.
Nói cách khác, Việt Nam hiện nay mạnh hơn trong vai trò công xưởng công nghệ cao, nhưng còn yếu trong vai trò trung tâm sáng tạo công nghệ cao.
Điều này không có gì đáng xấu hổ. Nước nào cũng phải đi qua giai đoạn học nghề, gia công, lắp ráp, tham gia chuỗi cung ứng. Nhưng điều quan trọng là phải biết mình đang ở giai đoạn nào. Nếu tưởng rằng lắp ráp công nghệ cao là đã làm chủ công nghệ cao, thì đó là một ngộ nhận nguy hiểm.
Trong y tế cũng vậy. Một bệnh viện có máy móc hiện đại chưa chắc đã là một bệnh viện tiên tiến. Một ca mổ phức tạp được đưa lên báo chưa chắc phản ảnh phẩm chất của cả hệ thống y tế.
Nền y tế tiên tiến bắt đầu từ những điều rất căn bản. Bệnh viện sạch, người bệnh không phải nằm chung giường. Nhiễm trùng bệnh viện được kiểm soát tốt. Hồ sơ bệnh án đầy đủ. Cấp cứu được phân loại đúng, thời gian chờ hợp lí, chăm sóc ban đầu mạnh. Dữ liệu y tế đáng tin cậy. Kết cục điều trị được đo lường thường qui.
Một nền y tế chưa giải quyết tốt bệnh viện quá tải và nhiễm trùng bệnh viện thì rất khó nói là ngang hàng với các nước tiên tiến.
Có thể có vài điểm sáng. Có thể có vài kĩ thuật cao. Nhưng một hệ thống y tế mạnh phải được đánh giá bằng chất lượng căn bản mà mọi bệnh nhân đều nhận được, chớ không chỉ bằng vài thành tích nổi bật.
● Khoảng cách thứ hai: phong trào và thể chế.
Việt Nam rất giỏi phát động phong trào.
Phong trào chuyển đổi số. Phong trào khởi nghiệp. Phong trào đổi mới sáng tạo. Phong trào công bố quốc tế. Phong trào xếp hạng đại học. Phong trào bệnh viện thông minh. Phong trào AI. Phong trào bán dẫn.
Phong trào có thể tạo khí thế. Nhưng khoa học, công nghệ và y tế không thể phát triển bền vững chỉ bằng khí thế.
Cái cần hơn là thể chế.
Thể chế là luật chơi rõ ràng. Là tuyển dụng dựa trên năng lực. Là tài trợ nghiên cứu qua cạnh tranh minh bạch. Là đánh giá độc lập. Là trách nhiệm giải trình. Là dữ liệu công khai. Là tiêu chuẩn nghề nghiệp. Là quyền tự chủ thật sự của đại học. Là bệnh viện được đánh giá bằng kết cục điều trị và an toàn người bệnh, không chỉ bằng số giường hay số kĩ thuật cao.
Phong trào thường có tính ngắn hạn. Thể chế có tính dài hạn.
Phong trào thích khẩu hiệu. Thể chế cần kỉ luật.
Phong trào thích con số đẹp. Thể chế cần dữ liệu thật.
Phong trào dễ tạo thành tích. Thể chế mới tạo năng lực.
Một quốc gia muốn có Steve Jobs hay Elon Musk không thể chỉ tổ chức vài hội nghị khởi nghiệp, vài cuộc thi đổi mới sáng tạo, hay vài chương trình gọi vốn.
Cần có môi trường trong đó người trẻ được phép đặt câu hỏi, được thử nghiệm, được thất bại, được bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, được tiếp cận vốn, và được cạnh tranh công bằng.
Một quốc gia muốn có đại học đẳng cấp quốc tế không thể chỉ đặt mục tiêu xếp hạng. Cần có giáo sư giỏi, sinh viên giỏi, tự do học thuật, phòng thí nghiệm tốt, tài trợ nghiên cứu ổn định, văn hoá tranh luận, và hệ thống đánh giá khoa học nghiêm chỉnh.
Một quốc gia muốn có y tế tiên tiến không thể chỉ xây thêm bệnh viện lớn. Cần có y tế cơ sở mạnh, hệ thống chuyển tuyến hợp lí, kiểm soát nhiễm trùng, dữ liệu lâm sàng, đào tạo liên tục, và văn hoá an toàn người bệnh.
Thể chế là phần chìm của tảng băng. Không thấy nó trên báo mỗi ngày, nhưng không có nó thì không có tiến bộ thật.
● Khoảng cách thứ ba: chức danh và năng lực thật.
Việt Nam có rất nhiều tiến sĩ, giáo sư, phó giáo sư, viện nghiên cứu, trung tâm, hội đồng, đề án, chiến lược.
Nhưng một quốc gia mạnh không được đo bằng số chức danh. Một nền khoa học mạnh không được đo bằng số lễ công bố. Một nền y tế mạnh không được đo bằng số bảng hiệu.
Năng lực thật thể hiện ở việc làm được gì.
Trong khoa học, năng lực thật là đặt được câu hỏi có ý nghĩa, thiết kế nghiên cứu tốt, tạo ra tri thức mới, và có ảnh hưởng trong cộng đồng học thuật.
Trong công nghệ, năng lực thật là tạo ra sản phẩm, làm chủ thiết kế, làm chủ công nghệ lõi, sở hữu bằng sáng chế, xây dựng thương hiệu, và cạnh tranh được trên thị trường quốc tế.
Trong y tế, ưu tiên là giảm số ca nhập viện và tái nhập viện. Cái này nên là mục tiêu số 1, chứ không phải công nghệ cao, AI hay những thứ cao siêu quá tầm.
Trong y tế, năng lực thật là giảm tử vong, giảm biến chứng, giảm nhiễm trùng bệnh viện, giảm thời gian chờ, tăng an toàn người bệnh, và làm cho người nghèo cũng được chăm sóc tử tế.
Chức danh có thể cần thiết. Bằng cấp có thể quan trọng. Nhưng chức danh và bằng cấp chỉ có giá trị khi chúng phản ảnh năng lực thật.
Một xã hội quá trọng hình thức rất dễ nhầm lẫn giữa “có danh” và “có tài”, giữa “có đề án” và “có năng lực”, giữa “có trung tâm” và “có hệ sinh thái”, giữa “có công bố” và “có đóng góp khoa học”, giữa “có máy móc hiện đại” và “có y tế chất lượng cao”.
Đây là một nhầm lẫn nguy hiểm, vì nó làm cho chúng ta tưởng rằng mình đã tiến xa hơn thực tế.
Tôi nghĩ vấn đề của Việt Nam không phải là thiếu người giỏi. Người Việt chúng ta học nhanh, chịu khó, linh hoạt, và có khát vọng vươn lên. Rất nhiều người Việt thành công trong khoa học, y khoa, công nghệ và kinh doanh khi họ được đặt trong môi trường tốt.
Vấn đề lớn hơn nằm ở môi trường và thể chế. Một người giỏi cần một môi trường để phát triển. Một nhà khoa học cần tự do học thuật và tài trợ nghiêm túc. Một bác sĩ cần hệ thống bệnh viện an toàn và chuyên nghiệp. Một doanh nhân công nghệ cần thị trường vốn, luật chơi minh bạch và quyền sở hữu trí tuệ. Một sinh viên tài năng cần thầy giỏi, phòng thí nghiệm tốt, và văn hoá khuyến khích suy nghĩ độc lập.
Vì vậy, thay vì hỏi “khi nào Việt Nam có Steve Jobs”, có lẽ nên hỏi những câu thực tế hơn:
Khi nào Việt Nam có đại học nghiên cứu đúng nghĩa?
Khi nào nhà khoa học trẻ có thể sống được bằng nghiên cứu nghiêm túc?
Khi nào doanh nghiệp Việt Nam đầu tư dài hạn vào R&D?
Khi nào bệnh viện xem nhiễm trùng bệnh viện là một chỉ số sống còn về phẩm chất?
Khi nào dữ liệu y tế được xem là tài sản quốc gia?
Khi nào người có năng lực được trao quyền nhiều hơn người có quan hệ?
Những câu hỏi đó kém hào nhoáng hơn. Nhưng đó mới là những câu hỏi căn bản.
Tôi không nghĩ Việt Nam nên bỏ khát vọng lớn. Ngược lại, Việt Nam cần khát vọng lớn hơn nữa. Nhưng khát vọng lớn phải đi cùng sự thành thật lớn.
Thành thật để thấy rằng xuất cảng công nghệ cao chưa đồng nghĩa với làm chủ công nghệ cao.
Thành thật để thấy rằng bệnh viện hiện đại chưa đồng nghĩa với y tế tiên tiến.
Thành thật để thấy rằng nhiều tiến sĩ chưa đồng nghĩa với nền khoa học mạnh.
Thành thật để thấy rằng khẩu hiệu không thay thế được thể chế.
Và thành thật để thấy rằng không có con đường tắt cho phát triển.
Từ ảo vọng đến hiện thực là một con đường dài. Con đường đó bắt đầu bằng những việc không hào nhoáng: dạy học cho tốt, làm khoa học cho nghiêm, quản trị bệnh viện cho sạch và an toàn, xây dữ liệu cho đúng, trọng dụng người có năng lực, và kiên trì trong nhiều năm.
Một quốc gia trưởng thành là quốc gia biết ước mơ, nhưng cũng biết tự kiểm tra chính mình.
Ước mơ giúp chúng ta đi tới. Năng lực thật giúp chúng ta đi đúng hướng./.





